ch Đáp án đề thi môn Văn khối c năm 2011 | Dap an de thi van khoi c 2011

Home » Đáp án đề thi khối C năm 2011 » Đáp án đề thi môn Văn khối c năm 2011

Đáp án đề thi môn Văn khối c năm 2011

Đáp án đề thi môn Văn khối c năm 2011

Đáp án đề thi Văn khối c năm 2012

Đáp án đề thi Văn khối C năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm)
Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?
Câu II (3,0 điểm)
Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…

(Đất Nước – Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm,

Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 117 – 118)
Phân tích đoạn thơ trên để làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.
———- Hết ———-

 Đáp án môn văn chính thức của Bộ giáo dục

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011
ĐỀ CHÍNH THỨC Môn: NGỮ VĂN; Khối: C
(Đáp án – Thang điểm có 03 trang)

I Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?
1. Các bản tuyên ngôn đã được trích dẫn (1,0 điểm)
- Tuyên ngôn Độc lập (năm 1776 của nước Mĩ).
- Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (năm 1791 của Cách mạng Pháp).
2. Ý nghĩa của việc trích dẫn (1,0 điểm)
- Nêu lên những nguyên lí chung về quyền được tự do bình đẳng của con người để khẳng định lập trường chính nghĩa của dân tộc; tạo vị thế bình đẳng giữa Việt Nam với các nước lớn trên thế giới.
- Đưa ra những lí lẽ thuyết phục để chuẩn bị tiền đề cho lập luận ở phần tiếp theo, làm cơ sở cho cả hệ thống lập luận của bản tuyên ngôn.
II Viết bài văn nghị luận bàn về ý kiến: Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.
1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
- Biết tự hào về bản thân là thái độ hãnh diện về cái tốt đẹp mà mình có, về những đóng góp của mình cho cuộc sống; biết xấu hổ là cảm thấy hổ thẹn về sự kém cỏi và những lỗi lầm của mình trước người khác.
- Nội dung ý kiến: Đề cao việc nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản thân, hướng đến sự hoàn thiện mình.
2. Luận bàn về ý kiến (2,0 điểm)
- Khẳng định sự cần thiết của việc biết tự hào: biết tự khẳng định mình, giúp bản thân tự tin hơn trong cuộc sống và trong công việc, có thêm động lực để vươn tới những ước mơ lớn hơn.
- Phê phán thái độ tự cao, tựđại (tựđánh giá mình quá cao, quá lớn vì thế mà trở nên hợm hĩnh).
- Khẳng định sự cần thiết của việc biết xấu hổ: giúp con người có ý thức điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những chuẩn mực đạo đức; biết xấu hổ còn quan trọng hơn biết tự hào bởi nó là biểu hiện của ý thức hoàn toàn tự giác, xuất phát từ lương tâm, giúp con người nâng cao năng lực và hoàn thiện nhân cách.
- Phê phán thái độ tự ti, mặc cảm (tự đánh giá thấp bản thân nên thiếu tự tin).
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
- Nhận thức sâu sắc về những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân.
- Nghiêm khắc đối với chính mình; không ngừng rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức nhân cách.
Câu Ý Nội dung
III.a Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân 5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, có phong cách tài hoa, độc đáo; có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam.
- Chữ người tử tù (in trong tập Vang bóng một thời) là truyện ngắn xuất sắc, kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước năm 1945.
2. Phân tích tình huống truyện (4,0 điểm)
- Nội dung tình huống:
Đó là cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu, éo le giữa người tù Huấn Cao với viên quản ngục chốn lao tù. Xét về phương diện xã hội, họ ở thế đối lập nhau (một bên là tử tù chờ ngày ra pháp trường; một bên là quản ngục nắm trong tay sinh mệnh của tù nhân). Nhưng xét về phương diện nghệ thuật, họ là những người có tâm hồn đồng điệu.
- Diễn biến tình huống:
+ Thái độ lúc đầu của Huấn Cao: Tỏ ra coi thường, khinh bạc ngay cả khi nhận được sự chăm sóc lặng lẽ, chu tất của viên quản ngục (Huấn Cao: “Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.”).
+ Sự thay đổi thái độ của Huấn Cao: Khi hiểu ra tấm lòng chân thành và sở thích cao quý của viên quản ngục, Huấn Cao hết mực trân trọng và đồng ý “cho chữ” (Huấn Cao:
“Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”).
+ Cảnh cho chữ trong nhà ngục: Diễn ra như “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Không gian và thời gian rất đặc biệt (nơi ngục tù, lúc đêm khuya); vị thế các nhân vật bị đảo ngược (tử tù thành thần tượng, ân nhân của cai ngục; cai ngục thành người ngưỡng mộ, chịu ơn tử tù).
- Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của tình huống:
+ Làm bộc lộ, thay đổi quan hệ, thái độ, hành vi khác thường của các nhân vật; làm toả sáng vẻ đẹp của cái Tài, cái Dũng, cái Thiên lương.
+ Góp phần khắc họa tính cách của các nhân vật; tăng kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm.
3. Đánh giá chung (0,5 điểm)
- Chữ người tử tù thành công trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
- Tình huống truyện trên đây góp phần thể hiện rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
III.b Phân tích đoạn thơ trong Đất Nước để làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo của
Nguyễn Khoa Điềm
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ; thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân.
- Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng; là một trong những đoạn đặc sắc, thể hiện những cảm nhận riêng, độc đáo của nhà thơ về đất nước.
Câu Ý Nội dung
2. Phân tích đoạn thơ (4,0 điểm)
a. Về nội dung: Đất nước với cái nhìn có chiều sâu và phát hiện mới mẻ (2,5 điểm)
- Phát hiện mới từ không gian địa lý: thiên nhiên đất nước trở nên thiêng liêng, gần gũi hơn khi có sự hoá thân của nhân dân.
+ Những địa danh, thắng cảnh tiêu biểu của đất nước, in đậm dấu ấn tâm hồn, lối sống nhân dân.
+ Nhân dân – những con người bình dị, vô danh – đã hoá thân vào đất nước; mỗi người lặng lẽ góp phần mình làm nên vẻ kì thú của thiên nhiên và bề dày của truyền thống.
- Khái quát về đất nước với những suy ngẫm có tính triết lí sâu sắc:
+ Từ thiên nhiên đất nước, suy ngẫm về vẻ đẹp tâm hồn của con người, lịch sử Việt Nam.
+ Từ những cuộc đời, những hoá thân cụ thể, nhận thức sâu hơn về mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên và con người, giữa đất nước và nhân dân.
- Chủ thể trữ tình bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên kì thú, vềnhững truyền thống quý báu của dân tộc; thể hiện niềm trân trọng và ngưỡng mộ trước những đóng góp lớn lao của nhân dân.
b. Về nghệ thuật: Đóng góp mới mẻ, độc đáo (1,5 điểm)
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc; sử dụng sáng tạo thể thơ tự do với sự biến đổi linh hoạt của âm hưởng, nhịp điệu; biện pháp liệt kê, trùng điệp;…
- Sử dụng linh hoạt chất liệu truyện kể dân gian, chất liệu văn hoá dân tộc để sáng tạo hình ảnh và thể hiện cách cảm nhận độc đáo về đất nước; cách triển khai ý thơ đi từ cụ thể đến khái quát phù hợp với các suy tưởng chính luận.
- Ngôn ngữ gần gũi với đời sống mà vẫn mới mẻ; hình ảnh quen thuộc, gợi mở nhiều liên tưởng sâu sắc.
3. Đánh giá chung (0,5 điểm)
- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là đóng góp mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về đề tài đất nước; qua đó khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước.
- Đoạn thơ thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Khoa Điềm.
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu vềkiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm kèm theo.
- Hết -

BÀI GIẢI CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN VĂN
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu I (2,0 điểm)

- Giới thiệu Tuyên ngôn độc lập: thời gian, mục đích: Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh được công bố tại Quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945 nhằm tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và toàn thể nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

- Trong phần đầu văn bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử là :

+ Tuyên ngôn độc lập (năm 1776) của nước Mĩ: “”

+ Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền (1791) của Cách mạng Pháp: “”

- Ý nghĩa của việc trích dẫn các bản Tuyên ngôn đó:

+ Xác lập cơ sở pháp lí vững chắc cho bản Tuyên ngôn, tạo tiền đề để khẳng định quyền độc lập chính đáng của dân tộc Việt Nam. Việc nước Việt Nam tuyên bố độc lập là hoàn toàn phù hợp với công pháp quốc tế, được nhân loại tiến bộ thừa nhận.

+ Khẳng định tính chất, ý nghĩa to lớn của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 khi đặt bản Tuyên ngôn độc lập sánh ngang cùng những bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại.

+ Ngầm cảnh báo âm mưu xâm lược của kẻ thù: nếu chúng xâm lược Việt Nam chính là phản bội tổ tiên mình, làm vấy bẩn lá cờ nhân đạo thiêng liêng của những cuộc cách mạng vĩ đại của họ mà được cả thế giới ngưỡng vọng. Đó là cách dùng “gậy ông đập lưng ông”.

+ Không chỉ trích dẫn nguyên vẹn theo nguyên bản, Bác còn có phần sáng tạo thêm khi làm động tác “suy rộng ra” để bổ sung những chân lí của thời đại mới: thời đại của những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

- Đánh giá: Việc trích dẫn các bản tuyên ngôn đã cho thấy trí tuệ sắc sảo, tầm nhìn sáng suốt, vốn văn hóa sâu rộng cũng như nghệ thuật lập luận vô cùng chặt chẽ, thuyết phục của Hồ Chí Minh.

Câu II. (3,0 điểm)

a. Giải thích ý kiến: tầm quan trọng của việc biết xấu hổ, biết tự trọng và có ý thức về những yếu kém, khiếm khuyết của mình.

b. Bàn luận về ý kiến:

- Tại sao “biết tự hào về bản thân là cần thiết” ?

+ Người ta chỉ có thể tự hào khi có một đặc điểm, phẩm chất nào đó tốt đẹp, đáng quý. Như vậy, tự hào là một thái độ tích cực giúp con người thêm tự tin, biết nâng niu, trân trọng và gìn giữ, phát huy những phẩm chất, đặc điểm tốt đẹp ấy.

+ Một niềm tự hào chính đáng có sức mạnh động viên, cổ vũ con người trong cuộc sống.

- Tại sao “biết xấu hổ còn quan trọng hơn” ?

+ Xấu hổ là một thái độ tỏ ra hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hay kém cỏi hơn người khác. Tưởng như xấu hổ là một tình cảm, thái độ tiêu cực nhưng nhìn từ phương diện khác, xấu hổ cũng là một biểu hiện của sự tự trọng, sự hiểu biết giá trị cũng những hạn chế, điểm yếu của bản thân mình.

+ Xấu hổ nếu xuất phát từ ý thức cầu tiến, ham học hỏi và dựa trên sự hiểu biết toàn diện về bản thân mình cũng như cuộc sống sẽ trở thành một thái độ tích cực, giúp con người ta nhận ra những thiếu sót, hạn chế của mình để tiếp tục cố gắng khắc phục, hoàn thiện.

+ Biết xấu hổ nghĩa là biết tự trọng, có ý thức về danh dự, nhân phẩm, về vai trò và nhiệm vụ của mình. Sự xấu hổ ấy không làm cho con người hèn kém đi mà nó nâng tầm nhận thức và nhân cách con người.

c. Bài học nhận thức và hành động

- Xấu hổ hay tự hào đều là những thái độ, tình cảm xuất phát từ việc nhìn nhận, đánh giá bản thân mình. Chỉ có thể dựa trên sự đánh giá chính xác, khách quan và lòng khiêm tốn, ham học hỏi và cầu tiến mới giúp con người tiến lên trong cuộc sống.

- Phải luôn khiêm tốn, tránh việc tự hào đến tự mãn, tự cao, tự đại đồng thời tránh thái độ tự ti, mặc cảm.

Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn.

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề

- Nguyễn Tuân (1910-1987) là “người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp” và cũng là cây bút rất mực tài hoa, uyên bác. Nhà văn thường quan sát, miêu tả thế giới ở phương diện thẩm mĩ và đánh giá con người dưới góc độ tài hoa, nghệ sĩ.

- Chữ người tử tù là truyện ngắn trích trong tập Vang bóng một thời (1940) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước Cách mạng, tác phẩm được đánh giá là “gần đạt đến sự hoàn mĩ”. Góp phần vào thành công nghệ thuật của tác phẩm, không thể không nói đến nghệ thuật tạo tình huống độc đáo.

2. Phân tích

* Khái niệm tình huống truyện:

+ Tình huống truyện là “cái tình thế của câu chuyện”, là cảnh huống chứa đựng trong nó những mâu thuẫn, xung đột hoặc những khả năng tiềm tàng để cốt truyện diễn tiến, phát triển, nhân vật bộc lộ tính cách.

+ Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm.

Tình huống truyện có vai trò hết sức quan trọng, được ví như “cái chìa khóa vận hành cốt truyện”. Từ tình huống truyện, các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ. Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Việc sáng tạo nên các tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất cuộc sống, bản chất con người của nhà văn.

* Tình huống độc đáo của truyện ngắn Chữ người tử tù

+ Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ đầy éo le, trớ trêu giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Nói là cuộc gặp gỡ éo le và trớ trêu là bởi xét trên bình diện xã hội, Huấn Cao và quản ngục là những kẻ đối địch nhau, là kẻ thù của nhau. Một người đấu tranh để lật đổ cái trật tự xã hội hiện hành, một kẻ là đại diện cho cái trật tự mà người kia đang muốn đánh đổ. Nhưng trên phương diện tài hoa, nhân cách, họ lại là những người bạn tri âm, tri kỉ. Một người là nghệ sĩ, sáng tạo cái đẹp, một người biết thưởng thức và trân trọng cái đẹp. Một người khí phách hiên ngang, cứng cỏi, một người ngưỡng mộ khí phách.

+ Đó là một cuộc gặp gỡ kì lạ: không gian diễn ra cuộc gặp gỡ là nhà ngục, là phòng giam ẩm thấp bẩn thỉu nơi vốn chỉ gợi nhắc đến sự tăm tối, bạo hành và tội ác. Thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ cũng rất ấn tượng: đó là những ngày cuối cùng của người tử tù trước khi bị giải về kinh chịu án chém.

* Vai trò của tình huống truyện:

+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm: khẳng định sự bất tử của cái đẹp, sự tất thắng của cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc đối đầu với những gì xấu xa, tăm tối, độc ác. Thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua tình huống truyện là thông điệp về sức mạnh cảm hóa kì diệu của nghệ thuật, của cái đẹp “Cái đẹp cứu rỗi nhân loại”

+ Bộc lộ tính cách nhân vật:Thông qua tình huống truyện, nhân vật Huấn Cao có cơ hội bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp: vừa hiên ngang, dũng liệt vừa tài hoa nghệ sĩ lại giữ được cái tâm trong sáng. Còn quản ngục, qua tình huống éo le ấy, cũng thể hiện mình là một người có khí phách, biết “biệt nhỡn liên tài”, trân trọng tài năng và khí phách của người anh hùng đồng thời là người vẫn giữ được thiên lương trong sáng.

+ Thúc đẩy cốt truyện phát triển (tạo không khí căng thẳng, lôi cuốn): Từ tình huống truyện, cốt truyện được triển khai, phát triển và lên đến cao trào trong cảnh cho chữ cuối tác phẩm. Chính tình huống độc đáo đã tạo cho câu chuyện sự lôi cuốn, hấp dẫn người đọc ngay từ đầu tác phẩm.

+ Thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: một người nghệ sĩ tài hoa, đầy cá tính, luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, cái đẹp độc đáo, phi thường nhưng vẫn mang giá trị nhân văn sâu sắc.

- Đánh giá chung: Tình huống truyện là một thành công nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm, góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn của tác phẩm đồng thời thể hiện rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Nguyễn Tuân.

Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

- Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 tại Thừa Thiên Huế, là gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mĩ. Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất suy tư sâu lắng và những cảm xúc nồng nàn về đất nước, về nhân dân.

- Đất Nước được trích trong chương V của trường ca Mặt đường khát vọng (1971) ghi lại những suy tư và cảm xúc sâu sắc của nhà thơ về Đất Nước dưới tư tưởng xuyên suốt: Đất Nước của nhân dân. Đoạn thơ phân tích nằm ở phần đầu, đoạn 2 trong đoạn trích Đất Nước, thể hiện những cảm nhận sâu sắc và độc đáo của nhà thơ về đất nước.

2. Phân tích

a. Nội dung: Đoạn thơ thể hiện sự đóng góp, sự hóa thân của nhân dân để làm nên đất nước muôn đời – một phương diện minh chứng cho tư tưởng Đất Nước của nhân dân.

- Mỗi địa danh, sơn danh, mỗi hình sông, dáng núi đều được lí giải bởi những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích … Đó đều là những sản phẩm văn hóa tinh thần của nhân dân.

- Không dừng lại ở lí giải nguồn gốc, tên gọi các địa danh, nhà thơ còn nâng lên khẳng định mọi không gian của đất nước đều được tạo lập bởi nhân dân, những con người bình dị, vô danh mà đông đảo vô cùng. Nhân dân đã tạo nên Đất Nước với tình yêu và nỗi đau, mồ hôi và sương máu, sự cần cù chịu khó, bằng sự dũng cảm kiên cường, bằng lòng nhân hậu thủy chung …

- Khẳng định, ngợi ca sự đóng góp thầm lặng, bền bỉ mà lớn lao, vĩ đại, thiêng liêng của bao lớp người dân bình dị qua suốt chặng đường lịch sử dài lâu để làm nên Đất Nước.

b. Nghệ thuật:

- Sử dụng một cách đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian: từ thần thoại, truyền thuyết đến những câu chuyện cổ tích. Đó đều là những sản phẩm văn hóa tinh thần của nhân dân, ghi lại vẻ đẹp tâm hồn cũng như nỗi đau của nhân dân qua bao thế hệ. Đó là biểu hiện sâu sắc cho tư tưởng Đất Nước của nhân dân xuyên suốt toàn tác phẩm.

- Thủ pháp liệt kê với hàng loạt các địa danh, sơn danh, những thắng cảnh danh lam mà chỉ nhắc đến tên gọi thôi cũng gợi lên biết bao điều về lịch sử, về văn hóa, phong tục của dân tộc.

- Phép điệp được sử dụng thành công với nhiều cấp độ:

+ Điệp từ : những (chỉ số nhiều, đông đảo), góp (chỉ sự tự nguyện, chung tay vun đắp mỗi cái riêng để thành cái chung lớn)

+ Điệp cấu trúc: các câu thơ mang cấu trúc: “A góp cho Đất nước B” được lặp lại trong suốt phần đầu đoạn thơ góp phần thể hiện sự nối tiếp, liền mạch của quá trình nhân dân dựng xây, giữ gìn đất nước.

- Những hình ảnh bình dị mà có sức biểu tượng sâu xa và giàu sức gợi cảm: từ những hình ảnh bình dị: con cóc, con gà quê hương, cặp vợ chồng, người học trò nghèo đến những hình ảnh lớn lao, kì vĩ như trong thần thoại: vó ngựa Thánh Gióng, những con rồng, chín mươi chín con voi. Đó là hình ảnh biểu tượng của nhân dân đông đảo, bình dị, vô danh mà vĩ đại vô cùng.

- Giọng thơ: trên nền chung là chất trọng trầm vang đầy chất suy tư, phần đầu đoạn thơ giọng thơ say sưa kể mãi về những đóng góp của nhân dân cho Đất Nước, phần cuối là những câu thơ mang nặng chất chiêm nghiệm, được đúc rút ra như là một chân lí: “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.

* Đánh giá chung:

Đoạn thơ thể hiện rõ nét tư tưởng Đất nước của nhân dân trong một khía cạnh độc đáo của nó: nhân dân chính là chủ thể tạo lập nên Đất Nước. Nét riêng biệt, mới mẻ trong cách cảm nhận, lí giải của nhà thơ về Đất Nước nằm ở việc phát hiện và khẳng định, ngợi ca vai trò của nhân dân với Đất Nước.

Nếu không xem được đáp án vui lòng ấn F5 hoặc Download

Truy cập http://dapandethi2011.com/dap-an-de-thi-khoi-c/dap-an-de-thi-khoi-c-nam-2011/

để xem đáp án chi tiết.

Kết bạn với Tuyensinh247 trên Facebook để ôn luyện thi nhé!

Từ khóa: , , , ,

2 Nhận xét

  1. Quàng Văn Chung nói:

    Các anh (chị) cố gắng giải nhanh rồi cập nhật luôn nhé. Cảm ơn anh chị nhiều.

  2. HO THI HOA nói:

    Qua kho”

Gửi nhận xét của bạn về bài viết Đáp án đề thi môn Văn khối c năm 2011

© 2012 Đáp án đề thi đại học năm 2014 - Đáp án đề thi cao đẳng năm 2014· RSS

Phí dịch vụ tin nhắn tin lấy đáp án, điểm thi, tỉ lệ chọi, điểm chuẩn... gửi đầu số 8712 là: 15.000 VND
diem thi dai hoc 2014